Tỷ Lệ Và Mức Độ Sử Dụng Chất Gây Nghiện Trên Đối Tượng Nam Quan Hệ Đồng Giới Và Nữ Chuyển Giới Tại Thành Phố Hồ Chí Minh Và Các Tỉnh Lân Cận

Đặt vấn đề: Trên cộng đồng LGBT tồn tại nhiều vấn đề cần được quan tâm về mặt thể chất lẫn tinh thần. Các vấn đề đó bao gồm pháp luật chưa công nhận, phân biệt đối xử, lạm dụng tình dục, bạo lực, trầm cảm và tự tử, sử dụng chất gây nghiện, mắc các bệnh lây qua đường tình dục và HIV.  Trong đó, nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) và người chuyển giới nữ (TGW) phải đối mặt với tình trạng bất bình đẳng trong đại dịch HIV. Ở nhóm MSM, tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn 19,3 lần so với nam giới trong dân số nói chung. Theo ước tính của CDC gần đây, MSM chiếm hơn 60% trong tất cả các trường hợp nhiễm mới ở Hoa Kỳ. Ở nhóm TGW, tỷ lệ nhiễm HIV  là 19,1% và gấp 49 lần so với những người trưởng thành trong độ tuổi sinh sản của dân số chung. Một trong những yếu tố liên quan đến hành vi nguy cơ dẫn đến lây nhiễm HIV trên TGW và MSM đó là sử dụng chất gây nghiện. Tỷ lệ sử dụng chất gây nghiện ở những người chuyển giới cao từ 2,5 đến 4 lần so với những người không chuyển giới. Tại Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu về MSM và TGW và các nghiên cứu đã thực hiện cũng chủ yếu tập trung về tình trạng nhiễm HIV, chưa đi sâu về rối loạn sử dụng chất. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm ra những dữ liệu và thông tin đầy đủ nhất về tình trạng sử dụng chất gây nghiện và các yếu tố liên quan trong nhóm MSM và TGW tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu:
Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang mô tả, được thực hiện từ tháng 04 – 06/2019 tại TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu.
Dân số chọn mẫu: (1) Người nam có quan hệ đồng giới hoặc chuyển giới nữ, (2) đủ 18 tuổi trở lên, (3) được tiếp cận các CBO tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận trong thời gian nghiên cứu tiến hành.
Cỡ mẫu: 1000 người
Thu thập dữ liệu: thông qua bộ câu hỏi online ẩn danh có cấu trúc được thiết kế sẵn. Sử dụng bộ câu hỏi ASSIST để đánh giá mức độ nguy cơ sử dụng chất gây nghiện. Thực hiện xét nghiệm nước tiểu tìm chất (ATS) và lấy máu để xét nghiệm nhanh HIV.

Kết quả:
Nghiên cứu thực hiện trên 1000 đối tượng tại TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, trong đó có 86,5% MSM và 13,5% TGW.
Tỷ lệ nhiễm HIV chung là 130 đối tượng chiếm tỷ lệ 13%, trong đó có 79 đối tượng cũ đang điều trị ARV (60,8%) và 51 đối tượng phát hiện mới (39,2%).
Nghiên cứu thực hiện sàng lọc bằng công cụ ASSIST ghi nhận tỷ lệ sử dụng rượu bia và các chất gây nghiện trong nghiên cứu lần lượt là: Rượu bia (82,7%), Dung môi: Popper (69%), ATS (50.5%), Thuốc lá (47,1%), Cần sa (16,9%), Các chất gây ảo giác, an thần cocain và thuốc phiện chiếm tỷ lệ từ 2,3 – 7,9%.
Mức độ sử dụng chất ở mức từ nguy trung bình/ cao chiếm phần lớn ở các đối tượng nghiên cứu từ trên 50% – 100%. Trong đó, mức độ sử dụng ATS ở mức trung bình/ cao trên 95%, chiếm ưu thế cho cả MSM và TGW. Tỷ lệ tiêm chích bất kỳ một loại ma túy là 8,9%.
Nghiên cứu tiếp cận xác định tỷ lệ sử dụng ATS thông qua bộ công cụ ASSIST và xét nghiệm nước tiểu 1 que với Metamphetamine. Có 494 đối tượng chiếm tỷ lệ 49,4% có sử dụng ATS trong đó có 484 đối tượng được xác định qua sàng lọc và 10 đối tượng xác định thêm qua xét nghiệm nước tiểu.
Tỷ lệ luôn luôn sử dụng bao cao su thấp trong số các đối tượng có sử dụng chất trước và trong 2 giờ khi quan hệ tình dục: Từ 15,2% (Dung môi: Popper), 12,3% (Rượu bia), chỉ có 6,3% (với sử dụng ATS).
Nghiên cứu xác định mối liên quan giữa các yếu tố với tỷ lệ sử dụng chất nổi bật trong quần thể là ATS, khi hiệu chỉnh bằng mô hình Logistic đa biến, các yếu tố thực sự còn liên quan đến tỷ lệ sử dụng ATS là: nhóm tuổi, nghề nghiệp, khả năng tài chính, nhóm tuổi quan hệ tình dục lần đầu, kiểu quan hệ tình dục với bạn tình nam, có bạn tình bất chợt, quan hệ với bạn tình nhận tiền/ quà và tỷ lệ mắc bệnh STI.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của chúng tôi còn tìm thêm các yếu tố liên quan với chất gây nghiện sử dụng phổ biến hiện nay là dung môi (Popper). Sau khi hiệu chỉnh bằng mô hình hồi quy đa biến cũng tìm được các yếu tố liên quan sau: tình trạng sống chung với bạn tình, khả năng tài chính, kiểu quan hệ tình dục và có bạn tình bất chợt.

Lời cảm ơn:
Nghiên cứu được tài trợ bởi SAMHSA thông qua trường UCLA.
Xét nghiệm HIV được tài trợ bởi Trung tâm Nâng cao Chất lượng cuộc sống (LIFE).
Sự hỗ trợ từ 09 CBOs thuộc 4 tỉnh thành: Glink, G3VN, Strongladies, Đá Khóc, Bình Minh, GNET, Kết Nối Trẻ, MFM, Gia Tộc Rồng.
Sự tham gia và góp ý cho nghiên cứu từ các chuyên gia, các tổ chức: PAC TP. Hồ Chí Minh, Khoa Y tế Công cộng – Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.