Hỏi đáp


Về COVID-19 và Vaccine

Sát khuẩn da sau khi tiếp xúc bên ngoài với ca lây nhiễm có thể sử dụng dung dịch sát khuẩn chứa ít nhất 60% cồn hoặc xà phòng. Đây là 2 dung dịch sát khuẩn an toàn nhất cho người và có hiệu quả tiêu diệt virus SARS-CoV-2 ở da.

Sau khi tiêm vắc xin thì cơ thể sẽ tạo ra kháng thể chống lại COVID-19. Vì vậy sau khi tiêm vắc xin thì kết quả xét nghiệm nhanh kháng thể (loại xét nghiệm lấy máu để xét nghiệm) sẽ bị ảnh hưởng. Kết quả loại xét nghiệm sinh học phân tử (RT-PCR) hoặc xét nghiệm nhanh kháng nguyên (loại xét nghiệm lấy bệnh phẩm từ họng mũi, mũi hay họng) không bị ảnh hưởng.

Con số này tùy thuộc vào con số R0 là tỉ số tái tạo cơ bản. Nhiều nghiên cứu cho rằng đối với Covid-19 thì R0 trên dưới 3. Nếu R0=3 thì tỉ lệ có miễn dịch tối thiểu trong cộng đồng là 67% (2/3) sẽ giúp truyền nhiễm không còn tăng trên cấp số nhân nữa và đó được gọi là ngưỡng miễn dịch quần thể. Muốn đạt tỉ lệ có miễn dịch là 67% và giả sử hiệu lực vắc xin là ε thì cần phải tiêm đạt tỉ lệ từ 67%÷ε trở trên.

Người ta gọi các biến thể liên quan đến chẩn đoán, điều trị hay vắc xin, làm tăng tính lây truyền hay tăng tử vong là biến thể đáng e ngại. Hiện nay trên thế giới có những biển thể đáng e ngại là biến thể Alpha (biến thể B.1.1.7, xuất phát từ Anh), Beta (B.1.351, xuất phát từ Nam Phi), Gamma (P.1, xuất phát từ Brazil) và Delta (B.1.617.2, xuất phát từ Ấn Độ).

Hiện nay chỉ có bằng chứng về hiệu quả của các vắc xin mRNA và vắc xin AstraZeneca lên các biến chủng đáng e ngại. Nghiên cứu cho thấy các vắc xin mRNA (Pfizer và Moderna) có hiệu quả trên virus chủng Wuhan và các biến hể Alpha, Beta, Gamma và Delta. Vắc xin AstraZeneca có hiệu quả lên biến thể Delta nhưng không có hiệu quả trên biến thể Beta.

Bệnh nhân bị tăng huyết áp và đái tháo đường (tiểu đường) không bị ảnh hưởng gì khi tiêm ngừa: Vắc xin Covid-19 không bị tăng huyết áp (dù tình huống bị căng thẳng tại nơi tiêm có thể làm tăng huyết áp) và không làm tăng đường huyết. Bệnh nhân bị tăng huyết áp và đái tháo đường nên tiêm ngừa để tránh bị biến chứng nặng, diễn tiến xấu khi mắc Covid-19.

Nhiều tổ chức y tế ưu tiên người có bệnh nền được tiêm chủng vắc xin Covid-19. Ngay cả bệnh nhân ung thư không ở chu kì hóa trị, bệnh nhân suy tim, bệnh nhân có bệnh mạch vành ổn định, bệnh nhân suy thân, bệnh nhân chạy thận nhân tạo, bệnh nhân được ghép thận vẫn được khuyên tiêm vắc xin ngừa Covid-19. Ở Việt Nam, có thể ở một số điểm tiêm do không sẵn có nhân lực để cấp cứu nên không tiêm cho bệnh nhân mắc bệnh nền hoặc bệnh nhân lớn tuổi nhưng chỉ định tiêm vắc xin chắc chắn sẽ được mở rộng trong tương lai.

Thông thường thì người ta khuyến cáo khoảng cách giữa 2 lần tiêm dựa trên đề cương của thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3. Với vắc xin Pfizer thì khoảng cách giữa 2 lần tiêm là 21 ngày và với vắc xin Moderna là 28 ngày.

Riêng đối với vắc xin Astra-Zeneca thì một nghiên cứu cho thấy nếu giữa mũi tiêm ban đầu và mũi tiêm nhắc lại có thời gian ít hơn 6 tuần cho hiệu quả 55,1% (bảo vệ khỏi bệnh có triệu chứng). Nếu có 6-8 tuần giữa các mũi tiêm hiệu quả tăng lên 59,9%, và nếu đợi 9-11 tuần, hiệu quả là 63,7%. Tuy nhiên, nếu khoảng cách giữa 2 mũi tiêm là 12 tuần hoặc lâu hơn, hiệu quả đã tăng lên 81,3%. Vì vậy với vắc xin Astra-Zeneca, người ta khuyên khoảng cách giữa 2 lần tiêm nên là 12 tuần hoặc hơn.

Đương nhiên là người có tiền sử dị ứng và tiền sử shock phản vệ thì cần phải được tư vấn đầy đủ và cán bộ y tế phải chuẩn bị để có thể đối phó với shock phản vệ.

Nếu bệnh nhân chỉ bị dị ứng không liên quan đến vắc xin như dị ứng với thuốc, thực phẩm, lông chó mèo, phấn hoa, cao su latex thì có thể tiêm vắc xin như thường.

Nếu bị dị ứng sau khi tiêm vắc xin khác thì phải cẩn thận hơn và phải báo cáo với bác sĩ sàng lọc tiêm chủng (nhưng vẫn có thể tiêm).

Nếu dị ứng với thành phần của vắc xin (trong vắc xin mRNA có Polyethylene Glycol, vắc xin AZ hoặc J&J thì có polysorbate) hoặc xảy ra phản ứng sau khi tiêm một loại vắc xin Covid-19 nào thì không được tiêm vắc xin đó nữa mà phải chuyển sang vắc xin khác.

Đã mắc Covid-19 thì vẫn nên tiêm vắc xin.Tuy nhiên Tổ chức Y tế Thế giới khuyên là người đã mắc nên trì hoãn tiêm khoảng 6 tháng. Điều này không vì chỉ định y khoa mà là do hiện nay vắc xin đang thiếu hụt và nên để ưu tiên cho người cần thiết hơn.

Rối loạn sử dụng chất được xem là bệnh lí nền làm tăng nguy cơ bị biến chứng nếu nhiễm Covid-19. Không có tương tác thuốc giữa vắc xin Covid-19 với Methadone. Vì vậy người đang uống thuốc Methadone nên tiêm vắc xin nếu có cơ hội và nếu không bị phản vệ với thuốc. Không được dừng hay ngưng điều trị với Methadone khi tiêm vắc xin Covid-19

Không có tương tác thuốc giữa vắc-xin Covid-19 (AZ, Pfizer, Moderna, Johnson&Johnson) với thuốc điều trị ARV. Không được dừng hay ngưng điều trị ARV khi tiêm vắc xin COVID-19

Người bị giảm tiểu cầu nguyên phát, giảm tiểu cầu miễn dịch (ITP) có phản ứng và đáp ứng miễn dịch với vắc-xin Covid-19 như bất kỳ người bình thường nào khác. Cắt lách không làm giảm đáp ứng miễn dịch. Tuy nhiên nếu người bị ITP mới sử dụng Rituximab (trong vòng 6 tháng) hoặc đang dùng thuốc ức chế miễn dịch thì có thể giảm đáp ứng miễn dịch. Dù vậy thì bệnh nhân vẫn được bảo vệ phần nào đó và do đó vẫn đem lại lợi ích.

Người bị ITP có một nguy cơ rất nhỏ là bị giảm tiểu cầu sau khi tiêm vắc-xin (MMR, cúm, viêm gan B,….) nói chung nhưng điều này chưa được báo cáo đối với vắc-xin Covid-19. Mà nếu điều này là có thì lợi ích của tiêm vắc-xin vẫn cao hơn nguy cơ đem lại. Vì người bị ITP có thể có những can thiệp khác hoặc có những bệnh lí đi kèm đặc biệt, việc kiểm tra và tham khảo thêm với bác sĩ trực tiếp điều trị là điều cần thiết.

Dù chưa phát hiện được ảnh hưởng của tiêm vắc xin lên thai nhi nhưng do nguyên tắc cần phải cẩn trọng với bất kì can thiệp nào trên phụ nữ mang thai, Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo chỉ những phụ nữ mang thai có nguy cơ cao phơi nhiễm với SARS-CoV-2 (ví dụ nhân viên y tế hoặc người sống ở vùng dịch) hoặc tăng nguy cơ mắc bệnh nặng (ví dụ người đang mắc bệnh nền) là nên được tiêm vắc xin phòng COVID-19 và phải được bác sĩ tư vấn, theo dõi chặt chẽ. Phụ nữ mang thai có nguy cơ thấp cần thực hiện những biện pháp phòng tránh lây nhiễm. Nếu chờ đợi sau khi sanh rồi mới tiêm thì sau khi tiêm vắc xin thì vẫn có thể cho con bú như bình thường.

Phụ nữ vừa sinh con, hoặc đang cho con bú vẫn có thể tiêm vắc xin phòng COVID-19. Sau khi tiêm vẫn cho con bú như thường. Tuy nhiên tại điểm tiêm, có nơi cho bạn tiêm, có nơi thực hiện chỉ định tạm hoãn tiêm vắc-xin cho bà mẹ có thai và cho con bú theo hướng dẫn của quyết định 2995/QĐ-BYT ngày 18-6 của Bộ Y tế.

Tổ chức y tế thế giới không khuyến cáo xét nghiệm chẩn đoán mang thai trước khi tiêm chủng. Do đó bạn tiêm chủng vắc xin khi có thai mà không biết không phải là sai sót. Đồng thời, Tổ chức y tế thế giới không khuyến cáo trì hoãn việc mang thai hay đình chỉ thai nghén vì lý do đã tiêm phòng COVID-19.

Theo Tổ chức y tế thế giới, đối với những phụ nữ mang thai có nguy cơ cao phơi nhiễm với SARS-CoV-2 (ví dụ nhân viên y tế) hoặc tăng nguy cơ mắc bệnh nặng (ví dụ người đang mắc bệnh nền), có thể được tiêm vắc xin phòng COVID-19 và phải được bác sĩ tư vấn, theo dõi chặt chẽ. Như vậy chị không có chống chỉ định tiêm văcxin mũi 2.

Tại Việt Nam, phụ nữ mang thai thuộc nhóm trì hoãn tiêm chủng. Thông tin này được nêu trong quyết định 2995/QĐ-BYT ngày 18-6 của Bộ Y tế ban hành hướng dẫn tạm thời về khám sàng lọc trước khi tiêm vắc xin phòng COVID-19. Vì vậy, chị có thể tiêm khi bộ Y tế triển khai tiêm cho phụ nữ mang thai. Mặc dù chỉ mới tiêm 1 mũi nhưng cũng đã được bảo vệ một phần rồi. Vì vậy nên yên tâm thựchiện phòng chống COVID-19 bằng thực hành 5K và chờ đợi được gọi đi tiêm chủng.

Về điều trị nghiện

Hỏi:

Cơ sở em vừa qua có ca bệnh đã đến xin điều trị lại lần 3, qua tham vấn và đấnh giá ban đầu và làm các xét nghiệm bệnh nhân đủ điều kiện điều trị lại. Bệnh nhân có ý chí và quyết tâm điều trị lại để ổn định cuộc sống và lo cho 2 đứa con, Công việc của bệnh nhân phụ tiếp người anh xây dựng nhà ở, đôi lúc làm phụ hồ.
Nhưng trước đây bệnh nhân vào điều trị:
– THƯỜNG ĐẾN UỐNG CẬN GIỜ ĐÓNG KHO
– TEST NƯỚC TIỂU KÉO DÀI THỜI GIAN, bệnh nhân bảo khó tiểu/mới tiểu ở – nhà rồi.
– SỬ DỤNG MA TÚY ĐÁ
– BỎ LIỀU
– áp dụng nhiều giải pháp bệnh nhân không thay đổi.
Vì vậy đồng nghiệp cơ sở em phản đối việc tiếp nhận bệnh nhận này vào điều trị lại vì lý do trước đây không tốt.
Xin các Bác hướng dẫn thêm gặp phải ca bệnh như thế giải quyết ra sao ?
Đáp:
Về trường hợp bệnh nhân này, đầu tiên chúng ta vẫn phải công nhận rằng, sự khó xử và thái độ của các anh chị nhân viên ở phòng khám của mình khi mà bệnh nhân vẫn liên tục có những vấn đề như vậy trong điều trị là hợp lý và dễ hiểu. VHATTC biết rằng mỗi phòng khám đều có những khó khăn và áp lực nhất định và không phải lúc nào mọi chuyện cũng theo như ý mình mong muốn.
Tuy nhiên, về góc nhìn giảm tác hại, chúng ta nên tiếp tục nhận lại bệnh nhân này vào điều trị. Một phần là vì bệnh nhân thực sự tự nguyện muốn quay trở lại, không phải vì gia đình hay ai đó ép buộc, điều này là điều kiện tiên quyết.
Phần nữa, là từ góc độ của chính các anh chị là nhân viên y tế, mình hãy tự hỏi chính bản thân mình, với điều kiện và tình hình hiện tại của cả bệnh nhân lẫn phòng khám, tiếp nhận lại bệnh nhân có tốt hơn là để bệnh nhân hoàn toàn tự thân vận vận động bên ngoài hay không? Một lần nữa, từ góc nhìn giảm hại, việc tiếp nhận điều trị cho bệnh nhân dù cho bệnh nhân có tái nghiện hây sử dụng chất kích thích vẫn khá hơn rất nhiều, vẫn mang lại nhiều lợi ích cho họ hơn so với chuyện họ sử dụng hằng ngày ma túy và không có bất kỳ kiểm soát hay hỗ trợ nào.
Trung tâm VHATTC
Chào chị,
Theo tiêu chuẩn ICD-10, để chẩn đoán nghiện, ít nhất 3 trong 6 biểu hiện cùng xuất hiện ở một thời điểm nào đó trong vòng 1 năm trở lại đây. Như vậy thật ra hoàn toàn không có điều kiện thời gian sử dụng chất phải từ 12 tháng trở lên.
Dù nghiện là bệnh lí mãn tính nhưng trong tiêu chuẩn ICD-10 hoàn toàn không có qui định giới hạn thời gian ngắn nhất để chẩn đoán. Tiêu chuẩn “triệu chứng xuất hiện trong vòng 1 năm trở lại đây” giúp trả lời câu hỏi khi nào thì một bệnh nhân cai nghiện thành công: trong vòng 1 năm nay không còn triệu chứng nữa (chính xác hơn là trong vòng 1 năm nay không có khi nào đủ 3 biểu hiện cùng lúc).
Cần lưu ý là trong tiêu chuẩn chẩn đoán, điều quan trọng không phải là có sử dụng chất hay không mà là có các triệu chứng hay không (thèm nhớ, mất khả năng kiểm soát, hội chứng cai, dung nạp, sao nhãng các hoạt động, tiếp tục sử dụng bất chấp tác hại). BN sử dụng chất liên tục trong hơn 1 năm qua, nhưng không có các biểu hiện trên thì cũng không được chẩn đoán nghiện. Ngược lại, BN cai nghiện dù đã ngưng sử dụng chất hơn 1 năm, nhưng vẫn còn có các biểu hiện (vd thèm nhớ, hội chứng cai) thì rõ ràng vẫn chưa thể xem là hết nghiện hoàn toàn.
Quay lại trường hợp BN đã sử dụng CDTP 8 tháng, để chẩn đoán nghiện cần hỏi xem trong thời gian sử dụng có các biểu hiện như trong tiêu chuẩn ICD-10 hay không, nếu có ít nhất 3 thì đã đủ để khẳng định là nghiện CDTP và theo qui định đủ tiêu chuẩn để điều trị methadone.
Tuy nhiên, trước khi nhận BN này vào điều trị methadone, cần tư vấn cho BN về các phương pháp điều trị cai nghiện CDTP khác, vì điều trị methadone có hiệu quả nhưng nhiều bất tiện (phải đi uống thuốc hàng ngày trong thời gian rất dài). Các phương pháp điều trị nghiện CDTP mà BN có thể xem xét là: tự cai ở nhà; đi cắt cơn có thể kèm dự phòng tái nghiện bằng naltrexone; tư vấn tâm lí… Các phương pháp này ít cản trở hoạt động công việc hơn, nhưng hiệu quả thì thường kém hơn methadone.
Cảm ơn chị đã gửi câu hỏi! Hi vọng câu trả lời có thể giúp chị tư vấn và hỗ trợ tốt cho BN.
ThS. BS. Nguyễn Song Chí Trung

Về trung tâm VHATTC

Các anh chị có thể gửi email thông tin của mình về: svhattc@gmail.com

Kèm thep các thông tin về: Họ tên, Cơ quan công tác, Vị trí chuyên môn, email, số điện thoại (không bắt buộc) để VHATTC nhập vào hệ thống dữ liệu.

Sau này, email của các anh chị sẽ tự động nhận được thông báo khóa học, sự kiện tập huấn trực tuyến mới. Vì VHATTC sẽ tổ chức rất nhiều các buổi giảng, thảo luận ca bệnh về nhiều chủ đề khác nhau, các anh chị nếu thấy sự kiện nào phù hợp có thể làm theo hướng dẫn để đăng ký tham gia riêng sự kiện đó.

Hẹn gặp lại trong các sự kiện sắp tới!

Load More


TRUNG TÂM CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CHẤT & HIV MIỀN NAM (SVHATTC)
Tầng 15, tòa nhà trung tâm Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: Số 217 Hồng Bàng, phường 11, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại: +84-28-3952-6005
Email: svhattc@gmail.com

NHẬN THÔNG BÁO QUA EMAIL

Truy cập: 200743 - Online: 1